Thương tặng lớp Đệ Thất 13 khóa 61-68 Cuộc đời chúng ta bắt đầu bằng tiếng hát u oa lúc thoát thai từ ḷng mẹ và nếu phải chọn một thời điểm nào đó để đành dấu bước khởi thủy tập tểnh học làm người, tôi xin chọn ngôi trường Trung Học Gia Long thân yêu với năm tháng đầu tiên ghé bước làm điểm khởi hành cho cuộc đời dài măi đến tận hôm nay. Xa quê hương gần trọn hai mươi năm, bao đổi thay của một đời phiêu bạt, nhưng h́nh ảnh ngôi trường xưa, bạn bè, thầy cô cũ vẫn c̣n đậm nét trong tôi như mới hôm nào của một thuở vô tư. ![]() Sau khi học hết bậc Tiểu học, tôi thi vào trường Gia Long (hay trường Áo Tím ngày xưa và là trường Nguyễn Thị Minh Khai bây giờ). Thuở đó, Gia Long là trường Trung học công lập nữ lớn và uy tín nhất của Saigon và của miền Nam, thi vào đó rất gian nan, mỗi khóa chỉ nhận trên dưới 700 học sinh mà thôi, có người ở thật xa ngoài thành phố vẫn t́m mọi cách để được vào học, v́ thế trường có nội trú dành cho những ai không có phương tiện về nhà thường xuyên. Tôi phải thi đến lần thứ hai mới "đậu bảng vàng" , ngày đi xem kết quả cuộc thi tuyển thấy tên ḿnh, tôi sung sướng nghe ḿnh trở nên quan trọng bên cạnh Phan thị Thu và Lê ngọc Định, hai cô bạn gần nhà. Không quan trọng sao được khi cả xóm, cả trường Tiểu học Chánh Hưng của tôi bấy giờ, phe con gái chỉ có ba đứa chúng tôi được "tên đề bảng hổ ". Năm đó là năm 1961, tôi đậu vào lớp Đệ thất 13, đi đâu cũng được nghe ba má tôi hảnh diện khoe với mọi người: "Nó đậu vào trường Gia Long đó à nghen." Tôi nghe mủi ḿnh phồng to và có cảm tưởng ḿnh cao hơn với đôi guốc thấp. Điều lệ nhập học cho những cô học tṛ mới như chúng tôi thời đó cũng khó khăn chứ không đơn giản như các cô cậu trẻ bây giờ. Phải có giấy chích ngừa các bịnh lao, bịnh đậu mùa, phải sắm đồng phục áo dài xanh da trời cho ngày thứ hai, và áo dài trắng cho những ngày c̣n lại. Qua năm sau, nhà trường bỏ áo dài xanh, chỉ giữ lại áo dài trắng cho trọn tuần, bỏ luôn cả chương tŕnh nội trú cho học sinh ở xa thành phố. Ngày đầu tiên nhập học, không có buổi sáng mai, không có má tôi nắm tay dẫn tôi đến trường như Thanh Tịnh đă diễn tả thuật lại buổi học Tiểu học đầu tiên. Vào Trung học là bắt đầu làm "người lớn" rồi, ai lại để má dẫn đi học bao giờ. Tôi khoác áo dài mới trắng tinh, cái tuổi mười hai lớn chậm, tôi chưa kịp chuyển ḿnh để biến ḿnh thành một cô thiếu nữ, má tôi lại thích may "trừ hao" để năm sau tôi vẫn c̣n mặc được, tôi thấy ḿnh thùng th́nh đến độ buồn cười như lúc bắt gặp h́nh ảnh một Lư Toét hay Xă Xệ trong các tranh hí họa trên báo. Nhưng cần ǵ đẹp xấu, miễn được khoác áo dài, mang phù hiệu Gia Long trên ve áo tôi cũng đủ nghe măn nguyện rồi. Tôi cùng Thu và Định đă thực sự là nữ sinh GL hôm đó, một buổi trưa đến trường có nắng vàng oi ả của mùa hè c̣n sót lại, có cái rộn ră, bâng khuâng của buớc đầu chập chửng vào trường, những chập chửng e dè không kém như ngày nào mới biết mùi phấn, mực. Trường tọa lạc trên khuôn khổ bốn con đường có bóng cây cao dài phủ mát. Bốn con đường "t́nh" dẫn các cây "si" từ muôn hướng đổ về đứng chờ những tà áo trắng ào tuôn sau bốn cánh cổng nhà trường khi chuông reng báo giờ tan học. Cổng chánh của trường nằm trên đường Phan thanh Giản, bây giờ là đường Điện biên Phủ. Từ ngoài cổng sắt bước vào bên trong phải qua cổng chánh sừng sửng cao theo lối kiến trúc cổ Tây phương mà chúng tôi thường gọi đùa là "Ngọ Môn quan", tôi ít khi đi vào lối nầy trừ những lần đến lớp trể. Cửa vào của tôi thường là cửa sau trên đường Ngô thời Nhiệm hoặc cửa hai bên hông đường Bà Huyện Thanh Quan và Đoàn thị Điểm. Tôi không thể không nói đến đặc điểm của những lối vào nầy. Cổng Ngô thời Nhiệm là nơi tôi thường ngồi đấu láo chờ giờ mở cửa cùng với những đứa bạn cùng lớp, tôi vẫn chưa quên khuôn mặt của Nguyễn thị Ái, Nguyễn thị Bé (em gái của ảo thuật gia Z.27), Nguyễn thị Bảy, Trần thị Hồng Hoa
thường chụm đầu vào nhau kể chuyện
trên trời, dưới đất, những mẫu
chuyện vui, vô tư của tuổi mười hai,
mười ba ngày đó sao hồn nhiên vô cùng, cái ǵ
cũng làm chúng tôi cười vang lên được,
không như bây giờ t́m một tiếng cười
thoải mái tự nhiên không suy nghĩ thật là khó
khăn. Tôi thích những sập hàng lưu động
bán thiệp đủ màu sắc, h́nh ảnh, kim tuyến
trong những ngày gần vào lễ Tết, Noel thường
tập trung ở cổng đường nầy,
cứ năm cắc một tấm nhỏ, có bao b́
đàng hoàng, bọn học tṛ thi nhau mua để
hí hoáy viết những câu thân t́nh ngây ngô tặng nhau
chứng tỏ t́nh bằng hữu thuở thiếu
thời.Cổng Đoàn thị Điểm ngó qua trường Saint Exupéry kế bên. Tôi cũng thích ngồi chờ vào lớp ở cổng nầy, thích nhất là những dăy hoa leo màu đỏ, màu vàng tươi thắm trên bờ rào tường cao. Giờ chúng tôi ngồi đợi mở cổng, bên kia trường Saint Exupéry lại đóng im ỉm, có hôm tôi cùng Thu và Định kéo nhau qua đó t́m một góc vắng để cầu cơ. Ôi, cái tuổi trẻ con ṭ ṃ vô tội vạ, không biết có hồn ma hay thần thánh nào ngày đó nhập vào trái tim nhỏ làm bằng mảnh ván ḥm mà Định năn nỉ mượn của một bà đồng cốt nào để trả lời những câu hỏi buồn cười của bọn tôi, hay chỉ là sự phá phách của một trong ba đứa đẩy nhẹ cho trái tim di chuyển hầu hù dọa lẫn nhau? Nhưng cổng bà Huyện Thanh quan mới thật sự là cổng tôi ưa thích hơn hết dù đây là cổng vào nhỏ nhất. Phía nầy, các dăy lớp học nằm gần sát bên đường, lớp Dệ thất 13 của tôi được định vị nơi đây, trên lầu 1, từ trong lớp nh́n ra thấy hàng cây cao dài rợp bóng. Vào những mùa lá đổ, hôm nào tôi cũng bị chi phối đầu óc bởi những chiếc lá vèo bay, lá bay trên cao, lá sà xuống đất như bươm bướm, như thảm vàng, thảm đỏ trải đầy vệ đường, gây tiếng kêu xào xạc dưới bước chân của những cô học tṛ áo trắng. Nhưng không phải tôi cảm cổng vào nầy chỉ bởi cây, bởi lá đâu. Tôi c̣n đắm đuối những h́nh ảnh thần thánh, dịu dàng bên kia đường nữa ḱa : h́nh ảnh ngôi chùa Xá Lợi với cổng Tam quan, với tháp chùa cao vút ngọn, hiền lành mà trang nghiêm đủ uy lực để bắt tôi cúi nhẹ đầu mỗi khi bước ngang trước cổng. Những hôm đi học sớm, tôi thích ngồi trên những bực thềm đá hoa ngoài cửa chùa ôn lại bài vở hoặc nhâm nhi nhửng ly đá đậu ngọt ngào hay nhửng cuốn ḅ bía nhỏ nhắn thơm mùi tương ớt. Nước đá đậu và ḅ bía nơi đây nổi tiếng ai cũng biết. Sau nầy, lúc đă rời trường để dấn thân vào đời, tôi thỉnh thoảng vẫn ghé lại nơi đây khi có dịp, trước để vào chùa lạy Phật, sau để nh́n lại trường xưa và nếu nói chân thật nhất phải thú nhận rằng mục đích chánh là để thưởng thức lại những hương vị món ăn bên đường ngày cũ. Bên trong trường rộng thênh thang, chia ra nhiều ngăn, nhiều dăy, có thư viện, pḥng thí nghiệm, sân thể thao, băi tập nhu đạo, bịnh xá và có cả quán ăn. Trong pḥng thí nghiệm ngoài các dụng cụ dành cho các môn tương ứng, c̣n có một bộ xương người treo lủng lẳng ở góc pḥng. Tôi vốn tính nhát như thỏ con, nghe các chị học nội trú hù dọa mỗi đêm bộ xương chuyển ḿnh kêu răng rắc, tôi nghe mà lạnh người, dù ban ngày mỗi lần đi ngang pḥng thí nghiệm tôi thừong t́m cách đi thật mau dù mắt vẫn ṭ ṃ liếc nhẹ vào trong. Con đường chánh dẫn đến các lớp đẹp như thơ giữa hai hàng cây giao cành phủ mát mà chúng tôi thường gọi đùa là "đại lộ Catina" , sỏi dưới chân lao xao , thảm cỏ quanh băng đá bốn góc sân trường dưới những cây sứ luôn trổ hoa thơm ngát kề cận những dăy nhà xe đạp, xe gắn máy của lũ học tṛ. Không
hiểu lư do ǵ, người chăm sóc cây cảnh của
trường ngày xưa lại trồng một hàng
cây mít dọc theo dăy lớp đầu tiên song song với
đường Phan thanh Giản. Nếu không sợ
bị phạt mất điểm hạnh kiễm,
đến mùa mít chín tôi chắc chắn sẽ xúi các
bạn t́m sào để thọc cho mít rụng rồi
làm bàn, làm cổ với nhau. Lúc tôi ra trường không
c̣n học nữa cũng là lúc trường khánh thành
một hồ bơi phía khuôn viên sân sau của trường,
rất tiếc, tôi chỉ c̣n được dịp
vào để chụp h́nh kỹ niệm mà không c̣n dịp
để bơi lội như những ai đang c̣n
học.Nếu chỉ nhớ trường bằng những con đường, những hàng cây, ghế đá th́ quả tôi là một kẻ hời hợt vô tâm, nhưng tôi vốn sinh ra với những hệ lụy nhớ thương nên dù vô t́nh đến mấy tôi cũng không thể nào quên được bao khuôn mặt thân thương lớp Thất 13 của tôi ngày nào. Tôi theo sinh ngữ Pháp, nhóm lớp của tôi nằm trong khóm từ Thất 7 đến Thất 14. Lớp tôi có 63 người, tôi vẫn c̣n nhớ như in tên những cô bạn đầu và cuối sổ điễm danh, trước tiên là Nguyễn thị Ái, Nguyễn thị Bé, Nguyễn thị Bảy, Nguyễn thị Cúc, Lê thị Thu Cúc … và cuối cùng là Nguyễn thị Ái Việt, Nguyễn thị Xuân, Trần thị Minh Yến. Có một tên đặc biệt mà lúc đầu giáo sư mới điễm danh, tên kêu đó đă làm cả lớp tṛn xoe ngạc nhiên trố mắt nh́n người mang tên Lê văn Tân Paulette. Dó là một cô bạn gái b́nh thường như bao bạn khác, nhưng gia đ́nh đặt tên theo "công thức" tây phương, lấy trọn tên người cha để trước tên con nên mới có sụ khác lạ như vậy. Sau nầy Paulette chính thức đổi tên thành Lê Thủy Tiên, làm xướng ngôn viên Đài Phát Thanh Quân đội chế độ trước. Vào khoảng năm 1980, có lần tôi đi dâng hương chùa Xá Lợi, gặp lại Paulette Thủy Tiên cũng đang đi lễ chùa cùng với hai đứa con nhỏ, bạn cho biết bạn đang chờ chồng hiện học tập cải tạo chưa về. Khi viết những gịng nầy, tôi hy vọng giờ Thủy Tiên đă cùng chồng xum họp sau bao năm xa vắng. Chúc bạn hạnh phúc, cái hạnh phúc của một người phụ nữ Việt Nam hiền thục biết thủy chung nuôi con chờ chồng trong cơn sóng đổi dời thế cuộc. Tôi ngồi bàn kế chót, phía trong gần tận cùng vách tường, bên trái tôi là Nguyễn Ngọc Dung, bên phải tôi là Lê Kim Mỹ, cô bạn thân nhất, t́nh ruột rà như cùng cha mẹ. Khoảng thời gian đó Nga - Mỹ là tên hai quốc gia ḱnh chống nhau như nước với lửa, vậy mà chẳng hiểu tại sao tôi với nó lại khắn khít nhau như keo với sơn. Chúng tôi đă bao lần giận hờn suốt cả thời gian ngồi chung nhau, vậy mà vẫn đeo nhau suốt bao năm dài, đem t́nh bằng hữu đó vào đời với bao kỹ niệm dưới mái trường xưa để vun tưới thương yêu bè bạn đến măi bây giờ dù tôi sống đời lưu lạc và Mỹ vẫn c̣n ở lại quê nhà. Hướng dẫn chúng tôi là những thầy cô khả kính mà h́nh ảnh tôi vẫn c̣n may mắn giữ được trong bức ănh chụp chung cả lớp giữa sân trường. Phải kể đến môn Toán trước hết, v́ đây là môn tôi dốt nhứt, nhưng năm đó chúng tôi lại có một giáo sư vô cùng đặc biệt, thầy Trương văn Minh. Thầy rất trẻ, mới ra trường,dáng thư sinh vẫn c̣n chưa xóa hết, giữa đám nữ sinh choai choai quỹ quái, thầy hay đỏ mặt đến cả mang tai khi "được " lũ học tṛ có dịp đặt những câu hỏi phá phách. Nhưng thầy hiền, rất hiền, hiền đến độ đă có lần bị lớp Thất 7 dùng trái mắc mèo ghẹo phá đến độ phải bỏ lớp ra về giữa chừng. Sau đó, cả lớp Thất 7 đă bị phạt không được ghi danh ứng cử danh sách đoạt cờ danh dự trọn năm và mất toàn lớp điểm hạnh kiểm. Dù sợ Toán, tôi vẫn kính mến thầy, thích sự giảng giải rơ ràng của thầy, có lẻ nhờ vậy năm đó tôi không bị thi lại môn nầy như tôi đă lo sợ lúc đầu năm. Sợ Toán, dĩ nhiên tôi sợ cả môn Lư Hóa, sợ công thức những phương tŕnh hóa học, Vật Lư và thực t́nh sợ luôn cả sự nghiêm trang khá lạnh lùng của giáo sư môn nầy là cô Dương Diệp. Cô người Bắc, ít cười, hoặc có cười cô cũng không cười nhiều lắm. Cô dạy kiêm cả môn Vạn Vật, môn nầy dễ chịu hơn, v́ tôi không phải nhức đầu suy nghĩ tính toán những phương tŕnh, những con số và cũng có thể tôi thích t́m hiểu đời sống của các động, thực vật trong đời sống quanh ta. Sau nầy lớn lên, tôi mới hiểu trong tôi t́nh yêu thiên nhiên đă bắt rễ từ những năm c̣n thơ dại, biết đâu chẳng phải nhờ cô trong những bước đầu tiên tôi mới có những t́nh cảm này? Học sinh ngữ, chúng tôi có cô Sáu dạy Pháp văn. Cô người nhỏ nhắn, mặt bầu bỉnh và cũng nghiêm trang, ít cười, cử
chỉ chậm chạp quư phái. Tôi cũng rất dốt
môn nầy, học hoài học hủy mà mấy cái động
từ Avoir, Être không chịu chui vào đầu tôi, mỗi
lần bị kêu trả bài hay bị kêu hỏi tại
chổ, tôi thường "sống sót " nhờ
đám bạn chung quanh nhắc nhở. Giỏi Pháp
văn trong lớp phải kể Paulette, Minh Yến,
và nhất là Trần thị Thanh. Khoảng năm
73, 74 tôi có việc phải vào Ngân Hàng Việt Nam Thương
Tín ở Bến chương Dương (chung cơ
sở với Ngân Hàng quốc Gia), tôi t́nh cờ gặp
lại cô đang làm việc nơi nầy, cô chuyển
nghề, bỏ lũ học tṛ, bỏ mái trường
xưa. Học được nửa năm, chúng tôi
có thêm một giáo sư Pháp văn hổ trợ, giáo
sư nầy người Pháp chánh tông, "mademoiselle
Susse" - hơn 40 năm qua rồi không biết tôi
nhớ tên cô có đúng không, gọi là mademoiselle nhưng
thực sự cô đă có tuổi, khoảng 40 hơn
ǵ đó. Tôi rất sợ giờ của cô, v́ phải
hoàn toàn nghe và nói bằng tiếng Pháp trong khi tôi lúc
nào cũng ngơ ngáo như ở tận cung trăng,
ngay cả lúc cô kêu tên tôi lên bảng trả bài tôi cũng
không biết là cô kêu tôi, tên tôi là Huỳnh Ngọc Nga
nhưng phải khó khăn lắm tôi mới hiểu
Uy Nhót Nhoa là tên cúng cơm của ḿnh. Năm đó môn
duy nhứt tôi phải thi lại là môn Pháp, nếu không
có cậu tôi dạy kèm lại môn này chắc tôi không
"lội" lên được đến lớp
trên.Giờ học thoải mái, được ưa thích của hầu như tất cả chúng tôi là giờ nhạc, vẽ, gia chánh và thể thao. Khó mà quên được thầy Minh dạy nhạc (trùng tên khác họ với thầy Minh dạy Toán), thầy thấp, tṛn , lúc nào cũng vui vẽ, lúc nào cũng cười đôn hậu. Nhưng dù thích nhạc, mến thầy tôi vẫn dốt nhạc lư, hát th́ tôi ḥ hét như các bạn, nhưng xướng âm các nốt nhạc th́ tôi chỉ chép miệng ậm ờ, tới ngày thi nhạc lư tôi lại phải xoay đông xoay tây cầu cứu Hồng Phương, Mỹ Dung, hai đứa bạn tương đối rất khá nhạc lư. Tôi thấy h́nh như chẳng phải có ḿnh tôi trong t́nh trạng nầy, mà cơ hồ đa số các bạn trong lớp cũng thế. Nhưng tôi chắc chắn không thể quên tiếng hát của Lê thị Nhă, cô bạn nhỏ nhắn xinh xinh có gịong hát ngọt ngào như giọng hát của ca sĩ Hoàng Oanh thời đó (Hoàng Oanh lúc ấy đang học đệ Tứ cùng trường với chúng tôi). Thầy rất cưng Nhă v́ Nhă hát hay và giỏi cả nhạc lư. Nhă vẫn thường được văn nghệ trường mời tham dự mỗi năm. Ngày đó tôi vẫn thường thầm nghĩ, nếu mai sau Nhă chọn nghề ca sĩ , chắc chắn sẽ nổi danh. Hiền lành như bụt phải kể đến cô Minh Nhật dạy họa, dáng cô hiền như giọng nói của cô, cô hiền quá nên đến giờ cô dạy lớp lúc nào cũng ồn ào những tiếng ŕ rào to nhỏ. Có thể nói cô là người được chúng tôi thương nhiều nhất. Trong lớp vẽ giỏi có Đoàn thị Tâm người Huế, năm đó Tâm dự thi Hội Họa Thiếu Nhi Á Châu tổ chức tại Nhật và đựoc hạng nh́. Tâm học giỏi đều tất cả các môn, lại giỏi luôn cả nghề bói toán coi chỉ tay, giờ ra chơi nào quanh Tâm cũng thường có đông các bạn bao quanh, dỉ nhiên tôi cũng có mặt trong số đó. Tâm đoán tôi sau nầy khi lập gia đ́nh sẽ rất hạnh phúc và có rất nhiều con. Bây giờ thỉnh thoảng nhớ lại, so lời Tâm nói năm nào với hiện tại tôi đang có, tôi thường mĩm cười và thấy bà bạn thầy bói đoán cũng không đến nổi sai tất cả. Giờ thể thao luôn luôn thoải mái, chúng tôi phải thay quần phùn xanh dương ngắn, áo sơ mi trắng cụt tay. Khu tập thể thao rộng, có sân bóng chuyền, dây leo, băi nhảy, pḥng tập nhu đạo, bàn pingpong. Cô Kim Ngọc phụ trách phần thể thao, tôi nhớ về cô không nhiều, có lẻ v́ giờ thể thao quá ít hay có lẻ v́ tôi không có tính thể thao trong huyết quản như Vơ Kim Hồng, hay Phạm thị Sữu, Nguyễn thị Hường, những đứa bạn luôn đứng đầu các môn điền kinh trong mỗi kỳ thi. Là nữ sinh, dỉ nhiên chúng tôi phải có giờ gia chánh nữ công. Cô Dương Chi phụ trách môn nầy. Nghe nói cô là
giáo sư Anh văn, nhưng không hiểu sao lại
được bổ nhiệm dạy thêm môn học
nầy. Cô cao, người khỏe mạnh, nhanh nhẹn
và nguyên tắc, tương đối cởi mở
với học tṛ. Tôi không nhớ rơ trong lớp ai là
người giỏi nhất môn gia chánh nữ công.Dạy công dân có cô Thanh Dung, các bạn tôi dọ tin cho biết cô là người của gia tộc đại văn hào Nhất Linh. Cô hiền lành, ẻo lả theo cung cách của người phụ nữ Hà Nội xa xưa. Tôi thích môn Công dân nên cũng rất chuộng giờ học với cô. Nhưng môn học mà tôi "đắm đuối" nhất là Việt Văn, Sử địa và cô Mận, giáo sư phụ trách môn nầy là người tôi thương nhất lúc bấy giờ, đến nay mỗi lần nh́n lại h́nh cô chụp chung với cả lớp tôi vẫn c̣n nghe nao nao nhớ về cô rất nhiều. Cô người Huế chánh tông, dáng cô thanh thoát, cô đẹp dịu hiền, giọng Huế nhẹ nhàng của cô quyến rủ tôi ngay từ giờ học đầu với cô. Có lẻ v́ "si" cô như vậy nên tôi học rất khá môn Việt văn. Tôi và Nguyễn thị Trâm, Nguyễn thị Bích Ngân là những đứa được cô ưu ái nhiều. Trong lớp có chị Phạm thị Ngọc Nga, gia đ́nh chị ngụ ngoài thành phố nhưng chị không ở nội trú. Chị giúp cha mẹ lo việc ruộng đồng cơ cực mà vẫn cố gắng học và thi đậu được vào đây. Chị kể mỗi ngày chị phải thức thật sớm vào khoảng 5 giờ sáng, phụ mẹ chị việc chăn nuôi, đồng áng, xong ăn vội vả cơm trưa để kịp đón xe đ̣ vào thành phố, tiếp đó lấy xe buưt để đến trường. Chiều xuống, khi tan học, có hôm tan trường lúc 6 - 7 giờ, chị về đến nhà th́ trời đă tối mịt. Chị chỉ kịp ăn uống, dọn dẹp và làm thêm vài việc nhỏ giúp mẹ chị rồi đi ngủ v́ mệt . Chị không có th́ giờ để học và làm bài vở chi hết. Vào lớp, ngồi cuối dăy, trong lúc thầy cô giảng bài, chị che hai tay trước trán rồi ngủ tự nhiên dù không muốn ngủ. Môn học nào chị cũng đứng chót hoặc gần áp chót. Chị dáng thô, cục mịch, màu trắng đồng phục như trêu ghẹo màu da sạm đen v́ nắng đồng của chị, nhưng chị hiền lành, chân chất nên bạn bè ai cũng thương. Chúng tôi học duy nhất cùng chị có một năm đầu tiên đó mà thôi, v́ cuối cùng chị nghỉ học v́ hiểu con đường đến trường với chị có quá nhiều sỏi đá chông gai vượt quá sức chị. * * * Hơn bốn mươi năm rồi, từ chung điểm của thời gian, không gian, những cánh chim non lớp Thất 13 ngày nào giờ đă phân tán khắp mọi nơi. Tôi chỉ c̣n giữ liên lạc được với Mỹ, cô bạn ngồi cùng bàn một thuở mà thôi. Năm 95 trở lại VN, dừng chân bên hông trường đường Bà Huyện Thanh Quan, vào chùa Xá Lợi dâng hương lễ Phật, trở ra trước cửa chùa ngồi uống ly đá đậu nước dừa, nhâm nhi năm ba cuốn ḅ bía, ngó qua cửa sổ các lớp học bên kia đường, tôi không biết tâm hồn tôi lúc đó là tôi của ngày xưa hay tôi của bây giờ, chỉ biết rằng chưa lúc nào tôi nghe thương quá là thương ngôi trường trước mặt như giây phút đó. Trường tôi, lớp tôi ngày xưa là như thế, có thể tất cả những h́nh ảnh đó rất tầm thường với khách bàng quan, nhưng với riêng tôi là cả một trời kỹ niệm. Có những kỹ niệm làm ta ray rứt khi hồi tưởng lại, nhưng cũng có những kỹ niệm đem đến cho hồn ta chút thanh thoát nhẹ nhàng, như bóng mát, như hương thơm phủ thắm con đường ta đang bứoc. Bao nhiêu năm rồi xa ĺa quê cũ, bức ảnh bên thầy cô, bè bạn tôi vẫn giữ và mang theo như mang cả một thời thân ái. Cuộc sống áo cơm với bao nhiêu khê ch́m nổi, những lúc tâm trí quay cuồng trong các cơn xoáy của thế nhân tôi vẫn thường ngoái đầu nh́n lại đoạn đường đă đi qua để thấy từ xa ở tận điểm khởi đầu, mật ngọt của tuổi thơ vẫn c̣n đó, sóng sánh chảy bằng những tiếp nối của bao thế hệ đi sau. HUYNH NGOC NGA Torino, ITALIA, 5-12-2002 |
Copyright © 2003 Gia Long High
School Alumni Association of North California. All rights reserved.
Provided by Gia Long, CBR - Australia